Những điều bạn cần biết về thuốc mỡ kháng sinh bôi ngoài da

Thuốc kháng sinh có rất nhiều hoạt chất, thuộc nhiều nhóm khác nhau. Thuốc kháng sinh được bào chế dưới nhiều dạng như: bột pha tiêm, dung dịch tiêm, viên nén, viên nang... Tuy nhiên, trên thực tế không phải kháng sinh nào cũng có dạng bào chế thuốc mỡ bôi da. Vậy thuốc mỡ kháng sinh có những lưu ý gì khi sử dụng?

Cơ chế hoạt động của thuốc mỡ bôi ngoài da

Thuốc kháng sinh bôi ngoài da thường sẽ chứa những tá dược giúp thuốc thấm được vào nơi tổn thương đang nhiễm khuẩn. Tá dược chính của các loại thuốc mỡ này thường là các chất béo như vaseline hoặc lanolin. Đặc biệt, dược chất sẽ chỉ có tác dụng tại chỗ mà không vào được hệ tuần hoàn chung tạo nên có tác dụng toàn thân. Điều đó làm cho thuốc chỉ có tác dụng khu trú tại nơi nhiễm khuẩn. Một số thuốc mỡ kháng sinh còn có chứa các chất làm lành vết thương, đẩy nhanh quá trình tái tạo mô, giúp vết thương mau lành.

Thuốc kháng sinh trị vết thương hở chỉ được sử dụng khi có chỉ định của bác sĩ nơi vùng da có tổn thương và nghi ngờ có nhiễm trùng.

Công dụng của thuốc mỡ

Thuốc mỡ kháng khuẩn có hoạt chất là kháng sinh Erythromycin và Clindamycin là 2 loại thuốc mỡ thường được sử dụng nhất trong điều trị mụn trứng cá mủ và viêm nang lông.

Các loại thuốc mỡ kháng sinh có hoạt chất là mupirocin, polymyxin, bacitracin và neomycin là những loại thuốc mỡ bôi da thường được dùng trong điều trị nhiễm trùng da như chốc... Trong đó, Bacitracin là một kháng sinh thông dụng để chữa các nhiễm khuẩn, thuốc giúp diệt khuẩn hoặc kìm khuẩn bằng cách ức chế vi khuẩn tổng hợp vỏ tế bào, từ đó gây tổn hại màng bào tương của vi khuẩn. Trước đây thuốc dùng để tiêm nhưng có độc tính cao với thận, vì vậy hiện này chỉ dùng bôi ngoài da.

Ngoài ra, thuốc mỡ kháng sinh còn có tác dụng rất tốt trong việc dự phòng nhiễm trùng ở các vết thương ngoài da, điều trị một số bệnh về mắt như: nổi chắp, viêm kết mạc cấp (đau mắt đỏ) và mạn tính, loét giác mạc, viêm giác mạc, viêm túi lệ...

Hướng dẫn sử dụng

Để chữa các bệnh viêm nhiễm ngoài da, bôi thuốc mỡ kháng sinh lên bề mặt bị nhiễm khuẩn từ 1-5 lần/ngày theo chỉ dẫn của bác sĩ. Để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn tại mắt, bôi 1 dải mỏng (khoảng 1cm) thuốc mỡ kháng sinh tra mắt lên kết mạc, tần suất bôi thuốc theo chỉ định của bác sĩ.

Một số lưu ý khi sử dụng

Để tránh tác dụng phụ, người bệnh sử dụng thuốc mỡ kháng sinh bôi ngoài da phải phù hợp với bệnh lý, giai đoạn và mức độ bệnh, vùng da bị bệnh, đôi khi còn cần phải cân nhắc đến độ tuổi, giới tính. Không tự ý sử dụng thuốc mỡ kháng sinh khi chưa có chỉ định của bác sĩ.

Không chỉ tác dụng ngoài da, các thuốc mỡ bôi da còn có thể ngấm qua da đi vào máu và cho tác dụng toàn thân. Như vậy, thuốc mỡ bôi da có vẫn có cả tác dụng tại chỗ và tác dụng toàn thân, việc sử dụng thuốc cần hết sức thận trọng, đặc biệt khi bôi cho trẻ em hoặc bôi lên diện tích da rộng.

Bên cạnh đó, người bệnh cũng không dùng dạng thuốc mỡ bôi da lên trên các tổn thương hở đang ở giai đoạn cấp tính hoặc đang bị chảy nước. Thuốc mỡ bôi da thường được sử dụng cho tổn thương giai đoạn mãn tính. Khi bôi lên vùng da có vết thương hở cần phải rất thận trọng, vì hoạt chất kháng sinh có trong thuốc mỡ kháng khuẩn có thể hấp thu qua vết thương hở và gây ra tác dụng phụ.

Phụ nữ có thai nên được bác sĩ tư vấn rõ ràng lợi ích và nguy cơ trước khi sử dụng thuốc mỡ kháng sinh bôi ngoài da. Bởi một số thuốc có thể gây phát ban da hoặc gây phản ứng dị ứng chậm. Ở những người bệnh quá mẫn với bất kỳ thành phần nào có trong thuốc có thể dẫn đến trạng thái giống sốc sau khi người bệnh bôi thuốc ngoài da.